Khối lượng tấm thạch cao: tính một tấm và cả lô
Khối lượng một tấm thạch cao được tính từ diện tích và khối lượng công bố trên đơn vị diện tích: khối lượng tấm = chiều dài × chiều rộng × khối lượng trên m². Ví dụ, tấm 2500 × 1200 mm có diện tích 3 m². Nếu tài liệu kỹ thuật ghi 8,5 kg/m² thì khối lượng tính được là 25,5 kg.
Chỉ độ dày là chưa đủ. Các tấm cùng kích thước có thể khác về lõi, lớp giấy mặt và phụ gia, vì vậy giá trị kg/m² phải lấy từ nhãn, tài liệu công bố tính năng hoặc bảng dữ liệu kỹ thuật của sản phẩm. Công cụ cuối bài tính một tấm và cả lô mà không đặt sẵn giá trị của nhà sản xuất.
Trong cách nói thông thường hay dùng “trọng lượng”, dù kg là đơn vị khối lượng. Trọng lượng theo nghĩa lực vật lý được đo bằng newton. Trong các câu thông dụng dưới đây, “trọng lượng” được hiểu là khối lượng tính bằng kilôgam.
Dữ liệu cần để tính
Một tấm cần ba giá trị:
- chiều dài;
- chiều rộng;
- khối lượng trên đơn vị diện tích, kg/m².
Với cả lô, thêm số lượng tấm. Độ dày không phải dữ liệu nhập riêng vì ảnh hưởng của nó đã nằm trong giá trị kg/m² được công bố cho sản phẩm cụ thể.
Kích thước phải là của một tấm, không phải bao kiện. Khối lượng trên đơn vị diện tích cũng chỉ tính vật liệu, không gồm pallet, màng bọc, thanh kê và bao bì vận chuyển.
Vì sao không có một khối lượng chung
Tấm thạch cao không phải khối thạch cao tự nhiên đồng nhất. Đây là vật liệu tấm có lõi thạch cao và lớp giấy mặt; thành phần và tính năng bổ sung thay đổi theo công dụng. Vì vậy không thể lấy khối lượng riêng của đá thạch cao trong bài trọng lượng riêng thạch cao nhân trực tiếp với thể tích hình học của tấm.
Khối lượng trên m² chịu ảnh hưởng bởi:
- độ dày và kích thước thực;
- thành phần và độ rỗng của lõi;
- phụ gia chống ẩm, chống cháy và gia cường;
- loại và khối lượng lớp mặt;
- độ bền cao hơn, khả năng chịu va đập hoặc tính năng âm học;
- dung sai sản xuất và độ ẩm vật liệu.
Các tấm có độ dày gần nhau có thể là loại nhẹ, tiêu chuẩn hoặc cường độ cao nên kg/m² khác nhau. Một giá trị không phải bảng chung cho mọi thị trường và sản phẩm.
Công thức cho một tấm và cả lô
Đổi chiều dài và chiều rộng từ milimét sang mét rồi tính diện tích:
S = (L / 1000) × (W / 1000),
S— diện tích một tấm, m²;L— chiều dài, mm;W— chiều rộng, mm.
Khối lượng một tấm:
m₁ = S × q,
trong đó q là khối lượng công bố trên đơn vị diện tích, kg/m².
Với nhiều tấm:
m = m₁ × n,
trong đó n là số tấm.
Ví dụ có thể kiểm tra
Giả sử tấm 2500 × 1200 mm, giá trị 8,5 kg/m² và 20 tấm:
- diện tích:
(2500 / 1000) × (1200 / 1000) = 3 m²; - khối lượng tấm:
3 × 8,5 = 25,5 kg; - khối lượng lô:
25,5 × 20 = 510 kg.
Giá trị 8,5 kg/m² là dữ liệu nhập của ví dụ, không phải đặc tính chung của tấm thạch cao.
Bảng quy đổi theo khối lượng trên m²
Bảng chỉ thể hiện quan hệ số học giữa diện tích và giá trị kg/m² đã nhập. Các hàng 6–14 kg/m² không phải phạm vi tiêu chuẩn hoặc khuyến nghị; hãy dùng giá trị được ghi cho tấm cụ thể.
| Khối lượng trên m², kg/m² | 2,4 m², kg | 3,0 m², kg | 3,6 m², kg |
|---|---|---|---|
| 6 | 14,4 | 18 | 21,6 |
| 7 | 16,8 | 21 | 25,2 |
| 8 | 19,2 | 24 | 28,8 |
| 9 | 21,6 | 27 | 32,4 |
| 10 | 24 | 30 | 36 |
| 11 | 26,4 | 33 | 39,6 |
| 12 | 28,8 | 36 | 43,2 |
| 13 | 31,2 | 39 | 46,8 |
| 14 | 33,6 | 42 | 50,4 |
Nếu tài liệu đưa ra khoảng, hãy tính một lần với cận dưới và một lần với cận trên. Kết quả là một khoảng khối lượng không tạo cảm giác chính xác giả.
Tìm khối lượng trên mét vuông ở đâu
Kiểm tra theo thứ tự:
- bảng dữ liệu kỹ thuật hoặc tài liệu công bố tính năng của sản phẩm;
- thông tin trên tấm hoặc bao bì;
- danh mục chính thức của nhà sản xuất cho thị trường và mã sản phẩm đó;
- tài liệu nhà cung cấp xác định rõ sản phẩm đã chọn.
Nếu chỉ có khối lượng toàn tấm, có thể tính ngược giá trị trên m²:
q = m₁ / S.
Tấm 3 m² và 27 kg có giá trị 27 / 3 = 9 kg/m².
Không dùng giá trị của loại, độ dày hoặc thị trường khác khi chưa kiểm tra. Cũng không thể suy ra khối lượng tấm riêng từ khối lượng riêng của thạch cao thô và bìa carton; công dụng của chúng được trình bày trong bài về thạch cao và bìa carton.
Tấm thạch cao và tấm sợi thạch cao là hai vật liệu khác nhau
Trong tấm sợi thạch cao, sợi phân bố trong vật liệu và không có lớp giấy mặt thông thường. Giá trị kg/m² vì vậy có thể khác. Có thể dùng công cụ với giá trị riêng của tấm đó.
Không lấy giá trị tấm sợi từ bảng tấm thạch cao hoặc ngược lại. Nguyên tắc này cũng áp dụng cho tấm xi măng, tấm oxit magiê và các vật liệu tấm khác.
Độ chính xác và giới hạn thực tế
Công cụ tính chính xác dữ liệu nhập nhưng không cân lô thực. Khối lượng có thể thay đổi do dung sai kích thước, thành phần, độ ẩm và sai khác sản xuất.
Khi lập kế hoạch vận chuyển, cần tính riêng:
- pallet, màng bảo vệ, thanh kê và dây giữ bao kiện;
- tải trọng cho phép của xe và thiết bị nâng hạ;
- giới hạn của thang máy, cầu thang và nơi lưu kho;
- cách an toàn để mang tấm khổ lớn.
Chỉ khối lượng lớp ốp không đủ để tính tải kết cấu. Hệ thống còn có số lớp, khung, liên kết, cách nhiệt, bột xử lý mối nối, hoàn thiện và các bộ phận khác. Công cụ không xác định khả năng chịu lực của vách, trần hoặc nền và không thay thế dữ liệu thiết kế.
Công cụ tính khối lượng tấm thạch cao
Nhập kích thước một tấm, khối lượng trên đơn vị diện tích theo tài liệu và số lượng tấm.
Kết quả
- Diện tích một tấm
- —
- Khối lượng một tấm
- —
- Tổng diện tích
- —
- Tổng khối lượng lô
- —
Câu hỏi thường gặp
Có thể biết khối lượng tấm thạch cao chỉ từ độ dày không?
Không. Các tấm cùng độ dày có thể khác về thành phần lõi, lớp mặt, phụ gia và mục đích sử dụng. Muốn tính chính xác cần khối lượng trên m² hoặc khối lượng một tấm trong tài liệu kỹ thuật của sản phẩm đã chọn.
Công cụ có dùng được cho tấm sợi thạch cao không?
Có, nếu nhập khối lượng thực tế trên m² của chính tấm sợi thạch cao đó. Tuy nhiên, tấm sợi thạch cao và tấm thạch cao bọc giấy là vật liệu khác nhau, không được dùng chung một giá trị tham chiếu.
Vì sao khối lượng tính toán có thể khác thực tế?
Công cụ thực hiện phép tính chính xác theo dữ liệu nhập, nhưng khối lượng thực tế phụ thuộc dung sai sản xuất, độ ẩm và đặc điểm của lô hàng. Khi vận chuyển và thiết kế phải xét tài liệu nhà cung cấp cùng toàn bộ hệ thống xây dựng.